THIÊN THỨ BA - ĐỨC TIN
1. Tiếng nói, tiếng cười của người ta thật đáng
quý, nhân hậu mà cũng độc ác thay.
2.
Nói không thông, viết không thông thạo là những
cái thiệt thòi lớn nhất của đời người trong cuộc sống.
3.
Người ta ai cũng có tai, có miệng nhưng ít người
biết nghe, biết nói.
4.
Ngôn ngữ, văn tự, cử chỉ biểu lộ sự khôn dại vụng
khéo hậu bạc của con người.
5.
Ngôn ngữ có giá trị truyền cảm nhất thời. Văn tự
có giá trị lâu dài mãi mãi.
6.
Nói thì nói cho đạt tình; bàn thì bàn cho chí
lý.
7.
Tiếng nói ngay thẳng bất khuất là tiếng nói của
lương tâm con người.
8.
Cây nào hoa trái ấy; người nào ngôn ngữ nấy.
9.
Không phải chỉ nghe lời nói nhưng còn phải xem
con người và cả cách nói của họ nữa.
10.
Khuôn mặt bề ngoài biểu lộ phần lớn tấm lòng thiện
ác hay dở ẩn bên trong. Lời nói, cách cư xử biểu lộ rõ tư cách hay dở tốt xấu của
con người.
11.
Nghe câu hỏi, xét lời đáp thì có thể biết được
cái khôn dại hay dở của mỗi người.
12.
Nói trúng tâm lý của người là gãi đúng chỗ họ ngứa.
Nói sai ý người là gãi phải vết thương của họ đau.
13.
Biết nói, biết nghe là cái thú của đôi bên đối
thoại.
14.
Nói ra điều không tốt đẹp của người là điều
không hay, không lợi cho mình.
15.
Nếu biết nhận ra hậu quả của một lời nói thì người
ta sẽ dè dặt, thận trọng hơn mỗi khi nói ra ý kiến của mình.
16.
Ý tưởng phong phú, nói năng lưu loát, tâm trí
bình tĩnh thì sự phát biểu mới hay.
17.
Hình ảnh gợi cảm linh động, ý tưởng đậm đà sâu sắc,
lý luận vững chắc, lời lẽ minh bạch khúc chiết, sự diễn tả thích ứng linh hoạt
theo cảnh tình là nghệ thuật cần phải có của một diễn giả.
18.
Lời nói là con dao hai lưỡi, có lợi bao nhiêu
thì cũng có hại bấy nhiêu.
19.
Nói nhanh sẽ hấp tấp vội vàng, kẻ nghe khó hiểu;
nói chậm sẽ thành đứt đoạn, kẻ nghe phải nóng lòng chờ đợi câu chuyện anh nói;
cả hai điểm nhanh và chậm này sẽ làm mất ý vị đậm đà lý thú của câu chuyện giữa
người nói với kẻ nghe. Dung hòa được hai cái nhanh và chậm này để đi tới vừa phải
là anh đã thành công một trong những điều cần thiết nhất của khoa ngôn ngữ.
20.
Đừng nói nhanh; chớ nói chậm; phải nói cho rõ
ràng, minh bạch và lưu loát.
21.
Tiếng nói chân chính, vô tư ai chẳng nghe, chẳng
quý.
22.
Không thuyết phục được người, không gây được thiện
cảm với người thì những lời nói của anh là thừa thãi, vô ích.
23.
Hình dung, diện mạo, ngôn ngữ, cử chỉ có tương
quan mật thiết với nhau như bóng với hình, như cây với hoa.
24.
Nói hay hẳn là điều hay, nhưng đôi khi không nói
gì còn hay hơn.
25.
Ngôn ngữ hấp tấp biểu lộ một tâm hồn thiếu bình
tĩnh, kém bản lĩnh.
26.
Hiểu biết một ngôn ngữ là hiểu biết thêm một dân
tộc.
27.
Ngôn ngữ, văn tự là chứng tích biểu lộ rõ bản chất,
trình độ văn hóa của một cá nhân, một dân tộc.
28.
Nghe lời nói thì biết được người trí, kẻ ngu.
Xem việc làm thì biết được người khôn, kẻ dại.
29.
Nói ra những điều không rành là hại cho mình mà
thiệt cho người.
30.
Nhiều lời với kẻ thiếu hiểu biết mình là một sự
thừa thãi vô ích, không hay.
31.
Biết nghe người nói; biết nói lời mình là biết
nói chuyện.
32.
Sự im lặng luôn đáng quý hơn lời nói thừa.
33.
Không tỏ bày nhiều những điều hơn lẽ thiệt với kẻ
xa lạ là người khôn ngoan.
34.
Lời nói không cảm được người là lời nói thừa
thãi vô giá trị.
35.
Những lời nói bừa bãi, lạc lõng là những lời nói
vô duyên nhất.
36.
Nói đến người, vật, sự không nên nói thì một là
hại mình, hai là làm giảm giá trị tư cách của mình đi.
37.
Không đàm luận, tranh luận với kẻ khác chí hướng
thì tránh khỏi mất thì giờ vô ích, sự bực mình không đâu.
38.
Lời nói trở thành phong phú sâu sắc hay không
còn tùy thuộc nơi địa vị cá nhân người nói.
39.
Phải sửa soạn ngôn từ ứng đối với kẻ đàm thoại
cùng ta mới tránh khỏi thiếu sót sai lầm, sự hối tiếc về sau.
40.
Gặp lúc nên nói mà không nói là thiệt thòi. Gặp
lúc không nên nói mà nói là tai hại.
41.
Hãy nói những tiếng nói đúng chỗ, đúng lúc, hợp
với khung cảnh và hoàn cảnh.
42.
Trong cuộc cãi lộn, kẻ nào cũng có lý.
43.
Những kẻ tự tuyên dương về mình là những kẻ lố bịch
nhất, đáng ngờ vực nhất.
44.
Nói ít mà đúng còn hơn nhiều lời mà sai.
45.
Trong cuộc đàm thoại tranh luận, điều cần phải
tránh là tự mình gây mâu thuẫn với mình.
46.
Tranh luận có nghĩa là đem lẽ phải để biện bạch,
thuyết phục kẻ đối lập mình cải tà quy chính.
47.
Lời nói hùng hồn, hợp lý thuận tình, có mãnh lực
như một đường gươm sắc bén.
48.
Dè dặt, khôn ngoan, bình tĩnh mà nói những tiếng
nói cần thiết của nội tâm anh.
49.
Bình tĩnh luôn giữ vẻ thản nhiên gần như vô tình
trong lời nói nhưng lại ngụ nhiều ý nghĩa bên trong thế là người sành khoa ngôn
ngữ, biết ứng đối.
50.
Biết rõ bản chất, tâm lý, giai cấp, trình độ,
nghề nghiệp của người đang đối thoại với anh là điều cần thiết.
51.
Thú vị nhất trong cuộc đàm thoại, tranh luận là
người nói với kẻ nghe, cả đôi bên đều biết hình dung ra câu chuyện, hiểu được ý
nghĩ, lời nói của nhau.
52.
Phải sành tâm lý, khéo diễn tả thì ngôn ngữ mới
có giá trị truyền cảm.
53.
Không giải thích rườm rà; không lời qua tiếng lại;
không lý luận quanh co luôn là tư cách của người trên.
54.
Thuật nói chuyện là phải biết nhận xét, chuyển
hướng câu chuyện cho thích hợp với tình cảnh, khung cảnh giữa người nói cùng kẻ
nghe.
55.
Không một món ăn nào ngon cả đối với người no bụng.
Không một câu chuyện nào hay nếu người nói không sành tâm lý, không biết diễn tả.
56.
Không biết trình bày bố cục, diễn tả thì câu
chuyện sẽ trở thành nhàm chán, vô lý, không cảm được ai.
57.
Hãy nói với người muốn nghe. Hãy bàn với người
hiểu biết.
58.
Có nhiều kẻ quen tật dối trá nhưng chính anh ta
lại không biết bố cục câu chuyện mình nói dối.
59.
Không bắt người ta phải nghe chuyện mình một
cách miễn cưỡng, nhưng khiến người ta chăm chú nghe điều mình diễn tả, đó là
nghệ thuật nói.
60.
Có thể nói chuyện với mọi người nhưng không nên
dễ dàng tỏ bày ý kiến riêng tư của mình với mọi người.
61.
Chẳng nên nói xa xôi với kẻ chỉ hiểu biết gần cận.
62.
Thốt ra lời nói sai lầm, thiển cận là tự tỏ lộ
nhược điểm của mình cho người hay.
63.
Cái hay của người nói chuyện không phải nói nhiều
nhưng là nói ra những điều thiết thực ý nghĩa.
64.
Muốn tránh khỏi nhàm chán với người nghe thì đừng
nhắc đi nhắc lại một câu chuyện quá nhiều lần qua tai họ.
65.
Người nói năng hùng hồn lưu loát là người đã am
hiểu tâm lý, đoán trước được câu hỏi cùng những lời nói của kẻ đang nói với
mình.
66.
Lý luận bao giờ cũng có nhiều mặt, nhiều phía.
Người hiểu biết, có óc quan sát, chịu theo dõi từ đầu đến cuối sẽ không bao giờ
bối rối, lúng túng trong câu chuyện của mình nói hay nghe.
67.
Người nói năng lưu loát là người biết đặt cái vấn
đề chính và phụ mà mình cần phải biết trước khi nói trong cuộc nói. Họ đã giải
quyết tất cả các vấn đề ấy một cách rành rẽ tinh vi.
68.
Điều gì không được mắt thấy tai nghe, không hiểu
rành, hiểu rõ thì khi nói năng đề cập tới anh nên dè dặt, đó là thái độ của người
khôn ngoan, hiểu biết.
69.
Nói không gãy gọn, dứt khoát, minh bạch thì chẳng
thà đừng nói còn hơn.
70.
Câu chuyện là món ăn tinh thần, tùy sở thích mà
cần phải phù hợp giữa người nói với người nghe thì mới tìm thấy nguồn hứng thú
của đôi bên.
71.
Có những câu chuyện ta chỉ nên nghe qua mà không
nên có ý kiến. Có những câu chuyện ta phải chăm chú nghe kể để tỏ thái độ của
mình.
72.
Miếng ngon lạ miệng; chuyện lạ vui tai.
73.
Lời đường mật là những viên thuốc độc bọc đường.
74.
Người khôn khéo thường nói những câu chuyện có đượm
nhuần ý nghĩa, thích hợp với khung cảnh.
75.
Những câu nói chua chát, gay gắt nhất là những
câu nói nặng nề nhất.
76.
Nói cho hả lúc giận là chuốc lấy sự hối hận về
sau.
77.
Nói mà không nghĩ thì lầm; làm mà không xét thì
hỏng.
78.
Người lương thiện có lý luận ngôn ngữ của người
lương thiện. Kẻ gian manh có lý luận ngôn ngữ của kẻ gian manh.
79.
Sau một cuộc trao đổi ý kiến, hãy nên nghĩ lại
những điều mình đã nói để suy ra điều khôn dại thiệt hơn.
80.
Tiếng nói sau cùng vẫn là tiếng nói chín chắn nhất,
khôn ngoan nhất.
Comments
Post a Comment